Dị dạng mạch máu tủy sống

Về phân loại dị dạng mạch máu tuỷ sống, cho tới nay vẫnlà vấn đề còn bàn cải.

Có điều chắc chắn là những u – động tĩnh mạch và u hang mạch (cavernome) là những dị dạng mạch máu thường gặp nhất.

Trường hợp u động – tĩnh mạch, phần lớn có kích thước lớn vào ngoằn ngèo nên dễ lầm với phình tĩnh mạch tủy (varicosis spinalis).

Một thể đặc biệt là nhuyễn tủy loạn sản mạch máu (myelomalacie angiodysgenesique) và còn được gọi là viêm tủy hoại tử Foix – Alajouanine (mvelitis nocroticans Foix – Alajouanine). Đây là trường hợp u mạch máu ngoài tủy và trong tủy gây nên ứ máu và hoại tử các cột trong tủy sống.

Cuối cùng phải kể đến u nguyên hào mạch (angioblastome).

Về vị trí, các dị dạng mạch máu thường xav ra ờ vùng tuỳ ngực, cụ thể từ Th7 – Th8. Tuy nhiên cũng có thể gặp ờ tất cả các đoạn tuỷ khác. Cũng có nhiều dị dạng mạch máu được hình thành ở nhiều đoạn tủy ở một bệnh nhân.

  • Lâm sàng của dị dạng mạch máu tuỷ sống

Lửa tuổi có biểu hiện bệnh trên lâm sàng thường ở khoảng 30 – 60 tuổi đời và rất hiếm thấy ở tuổi lên 10. Hay gặp ở nam nhiều hơn nữ giới.

Những triệu chứng lâm sàng có thể gây nên bởi 3 cơ chế sinh lý bệnh sau đây:

  • Thiếu máu cục bộ tuỷ sống do dòng máu bị cuốn theo những đoạn thông động – tĩnh mạch.
  • Tuỷ sống bị chèn ép.
  • Chảy máu ở trong tuỷ hoặc chảy máu khoang dưới nhện.

Hình ảnh dị dạng mạch máu tủy sống trên phim chụp mạch máu

Những triệu chứng do thiếu máu tủy đơn thuần ở giai đoạn đầu thường là thoảng qua. Đầu tiên thường hay xuất hiện dị câm ở hai chi dưới. Có thể có những rối loạn về hoạt dộng của bàng quang và ruột. Ở giai đoạn muộn sẽ hình thành hội chứng tủy ngang một phần hay toàn bộ.

Từ những dị dạng mạch máu có thể dẫn tới chảy máu tủy sống và/hoặc chảy máu dưới màng nhện tủy sống. Những thể bệnh xuất hiện trong quá trình tiến triển này thường hay gặp đặc biệt ở trẻ em.

Xem thêmBài thuốc chữa bệnh hay từ rau má không nên bỏ quaTác dụng không ngờ của quả chuối

Triệu chứng lâm sàng được biểu hiện bằng triệu chứng đau lưng cục bộ ghê gớm mà phần lớn lan xuyên ra ngang thắt lưng và xuống hai chân, đồng thời khám thấy phản ứng màng não (mengismus) và dấu hiệu Lasègue dương tính; nhưng lại điển hình, rõ rệt hơn là triệu chứng cứng gáy; có thể không có nhức đầu.

  • Khám thần kinh, thường phát hiện được những biểu hiện tổn thương theo đoạn và ít nhiều tồn tại hội chứng tuỷ ngang.

Có khả năng chảy máu tuỷ sống tái phát.

  • Chuẩn đoán và chẩn đoán phân biệt dị dạng mạch máu tuỷ sống

Những cơ sở quan trọng nhất là những triệu chứng về tủy sống hoặc những triệu chứng kết hợp của tuỷ sống với rễ thần kinh.

Chọc sống thắt lưng có thể phát hiện được dịch não – tuỷ có lẫn máu trong trường hợp chảy máu của dị dạng mạch máu hoặc hội chứng phân ly albumin tế bào (albumin tăng nhưng tế bào không tăng) trong dịch não  tuỷ trong trường hợp tắc nghẽn lưu thông dịch não tuỷ do những u mạch (nghiệm pháp Queeckenstedt dương tính).

Chụp tuỷ bằng thuốc cản quang có giá trị quan trọng cho chẩn đoán. Kết quả X quang điển hình là giãn rộng tĩnh mạch tuỷ sống ở bề mặt sau (phía lưng) của tủy sống và hình ảnh nghẽn tắc cột cản quang trong trường hợp dị dạng mạch máu tủy gây chèn ép.

Trong thời gian gần đây, việc áp dụng những kỹ thuật chụp mạch máu đã giúp cho chẩn đoán lâm sàng ngày càng tiến bộ. Nhưng nó đòi hỏi phải có trang bị kỹ thuật và kinh nghiệm để tạo được khả năng chẩn đoán tối ưu với những tai biến nguy hiểm tối thiểu.

  • Về chẩn đoán phân biệt của dị dạng mạch máu tủy sống cần phải đặc biệt lưu ý tới những u nội tuỷ, bọc máu ngoài màng cứng, nhuyễn tuỷ sống, viêm tủy ngang, các bệnh của các cột bó trong tủy và viêm não tuỳ rai rác. dõi khi cả giang mai não tủy.
  • Điều trị các dị dạng động mạch máu tuỷ sống

Phương pháp điều trị căn bản nhất là cắt bỏ các dị dạng mạch máu hoặc ít nhất là làm gián đoạn sự lưu thông giữa các mạch máu với những u mạch tích đọng máu.

Chỉ định phẫu thuật: những trường hợp đã có những tổn thương thần kinh vĩnh viễn, độ lớn với mức độ rộng của những u mạch.

Phương pháp điều trị trước kia thường hay áp dụng là giải phóng sự chèn ép bằng cách cắt cung sau đốt sống và chiếu những tia X đều không mang kết quả mong muốn.