Phẫu thuật lại sau mổ thoát vị đĩa đệm thắt lưng

Phẫu thuật lại sau sau mổ TVĐĐ thắt lưng bao gồm thoát vị đĩa đệm tái phát (recurrent lumbar disc herniation) và sẹo dính sau mổ cũ.

Thoát vị đĩa đệm tái phát được hiểu là thoát vị ờ ngay chính vị trí đĩa đệm mổ trước đây, SCO dính vết mổ cũ hoặc sẹo dính kết hợp với thoát vị ở tầng trên hoặc tầng dưới đĩa đệm mổ cũ.

  • Tỷ lệ mổ lại: theo số liệu nghiên cứu của chúng tôi có 78/2359 (3,3%) trường hợp thoát vị thắt lưng phải mổ lại. Tầng đĩa đệm phải mổ lại nhiều nhất vẫn là L4-L5: 60 BN và L5- Sl:l 1 BN.
  • Triệu chứng lâm sàng: đau 100% (đau như trước mổ); hội chứng đuôi ngựa 5 (biến chứng sau mổ lần đầu có 3 và 2 trường hợp trước mổ lần đầu đã có hội chứng đuôi ngựa rồi); teo cơ 56/78.

Phẫu thuật lại sau sau mổ TVĐĐ thắt lưng

Chẩn đoán cận lâm sàng: chụp bao rễ cản quang 35 và chụp CHT là 43. Có 2 trường hợp cha đệm đã được phẫu thuật cắt bỏ nhưng trên ảnh CHT nhân nhầy đĩa đệm tối phát như chưa được cắt bỏ, biểu hiện khoang gian đốt không hẹp, nhân nhầy đĩa đệm vẫn còn tín hiệu có hình thấu kính hai mặt lồi và chèn dây ra sau, kích thước nhân nhầy đĩa đệm cảm giác không thay đổi so với trước mổ. Khi mổ lại lấy được khá nhiều tổ chức đĩa đệm thoái hóa.

Chúng tôi đặt câu hỏi là liệu nhân nhầy đĩa đệm có được tái tạo và phát triển trở lại như trước không? Những bệnh nhân mổ lại, mặc dù lần mổ trước nhân nhầy đĩa đệm đã được lấy bỏ khá nhiều, nhưng trên phải chụp lại vẫn còn tổ chức đĩa đệm.

Qua 43/78 (55,12%) trường hợp mổ lại được chụp CHT, chúng tôi nhận thấy khá nhiều trường hợp trên ảnh cộng hưởng từ vẫn còn tổ chức đĩa đệm. Như vậy khả năng mổ lần đầu chỉ lấy được 80-90% tổ chức nhân nhầy đĩa đệm và phần đĩa đệm còn lại có khả năng phát triển và gây đau trở lại.

  • Thời gian mổ lại < 3 tháng là 12; < 1 năm là 20; 2 năm đến 9 năm là 28; 10-19 năm là 16 và trên 20 năm là 2 trường hợp.
  • Kỹ thuật tiến hành mổ lại: cắt cung sau là 72 trường hợp và mở cửa sổ xương một bên là 6 trường hợp.
  • Nguyên nhân mổ lại:

Sẹo dính đơn thuần: 29/78 (37,2%).

+ Thoát vị tái phát: 28/78 (35,9%); trong đó thoát vị tái phát cùng bên là 12, thoát vị tái phát khác bên là 4/28 và thoát vị tái phát ở trung tâm là 12 bệnh nhân.

+ Thoát vị đĩa đệm ở tầng trên hoặc ở tầng dưới chỗ mổ cũ kèm theo sẹo dính đĩa đệm mổ cũ là 13 (16,7%).

+ Viêm rò vết mổ: 8 (10,2%).

  • Kết quả mổ lại:

Kiểm tra khi ra viện, kết quả như sau: tốt 31/78 (39,79%), khá 17/78 (21,8%), trung bình (đỡ đau không nhiều) 19/78 (24,35%) và kém 11/78 (14,1%).

Trong số 11 trường hợp kết quả kém, có 3 trường hợp bị yếu vận động gấp bàn chân về phía mu và hai trường hợp hội chứng đuôi ngựa mức độ nhẹ. số còn lại đỡ đau ít, vẫn phải dùng thuốc hàng ngày.

Theo Suk KS; Lee HM và cộng sự (2001) thì thoát vị tái phát gặp 5-11% các trường hợp.

Theo Erbayraktar s và cộng sự (Turkey, 2001) thì tái phát đĩa đệm là 6,5% và còn nguyên sẹo màng cứng là 36,36%; tái phát cùng vị trí là 22,27%.

Cinotti G; itoysam GS (1998) nghiên cứu tái phát đĩa đệm cùng bên ở 26 trường hợp đã được mổ lại nhận thấy có 42% trường hợp đau lại là sau một chấn thương hoặc một biến cố bất thường sau bê nặng hoặc xoay người đột ngột, ngay sau đó xuất hiện đau rễ thần kinh tái phát. Kết quả sau mổ lại cho thấy 65% đỡ đau nhiều và trở lại với công việc như trước khi được mổ.

Theo Dai LY; Zhou Q và Yao WF (China, 2005) nghiên cứu 39 trường hợp mổ lại cho thấy: tái phát ở đĩa đệm L4-L5 là 27, L5-S1 là 11 và L3-L4 là 1, tái phát đĩa đệm được mổ lại sau 6 tháng đến 17 năm.

Kết quả cụ thể: 29 bệnh nhân trở lại với công việc trước đó. đỡ đau nhiều và làm việc bình thường; 7 trường hợp có dấu hiệu cải thiện lâm sàng và 3 trường hợp từ đau không nhiều, vẫn phải dùng thuốc hàng ngày.